Tổng quan về người Việt tại Mỹ

Việc nhập cư quy mô lớn từ Việt Nam sang Mỹ đã bắt đầu từ giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Năm 1975, ước tính đã có khoảng 125.000 người tị nạn Việt Nam tham gia vào những cuộc di tản do Mỹ tài trợ. Khi cuộc khủng hoảng nhân quyền và số lượng di dân ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Campuchia và Lào) trở nên đáng báo động, nhiều người tị nạn cùng gia đình họ đã được Chính phủ Mỹ chấp thuận cho nhập cảnh vào Hoa Kỳ. Cũng từ đó, lượng dân nhập cư Việt Nam tại Mỹ phát triển đáng kể – tăng lên gấp đôi mỗi thập kỷ từ năm 1980 đến 2000, sau đó tiếp tục tăng 26% trong những năm đầu thế kỷ XXI. Số liệu năm 2017 cho thấy: Có đến hơn 1,3 triệu người Việt cư trú tại Hoa Kỳ, chiếm 3% trên tổng số 44,5 triệu người nhập cư. Người Việt đã trở thành nhóm dân ngoại quốc lớn thứ 6 trong toàn nước Mỹ.

Biểu đồ 1: Dân số nhập cư Việt Nam tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1980 – 2017(1)

Theo số liệu ước tính giữa năm 2017 của Ủy ban Dân số Liên Hợp Quốc (UNPD), Hoa Kỳ chính là điểm đến hàng đầu của những người di dân Việt. Tiếp theo đó là Úc (với 238.000 người Việt nhập cư), Canada (192.000 người) và Pháp (128.000 người).

Xem thêm các bài viết:
Những số liệu chi tiết về người Việt tại Mỹ
Thường trú nhân và công dân Mỹ
Định cư Mỹ diện đoàn tụ gia đình

Không giống như trong quá khứ – khi hầu hết người Việt Nam nhập cư với tư cách dân tị nạn, những người có tư cách thường trú hợp pháp tại Hoa Kỳ ngày nay (tức là đã nhận được Thẻ xanh) phần lớn đều thông qua diện Đoàn tụ gia đình. Có rất ít người sở hữu Thẻ xanh thông qua diện Việc làm hay các diện định cư khác. Người nhập cư Việt thường có vốn tiếng Anh hạn chế hơn nhiều so với những người nước ngoài nhập cư khác. Nhưng so với tổng dân số nhập cư, phần lớn người Việt Nam lại được phép nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Ngoài ra, có ít trường hợp người nhập tịch người Việt nằm trong diện hoàn cảnh khó khăn hay thiếu thốn Bảo hiểm y tế.

Dữ liệu từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (USCB), Ban Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ (ACS) giai đoạn 2012 – 2016 và mới nhất đây là 2017, “Niên giám thống kê Xuất nhập cảnh” của Cục An ninh Nội địa Hoa Kỳ (DHS) cho ta những nét tổng quan về tình hình người Việt ở Mỹ như sau:

  • Sự phân bố dân số theo Bang và các Thành phố chủ lực:

Trong giai đoạn 2012 – 2016, người nhập cư Việt tập trung cao ở California (39%), Texas (13%), Washington (4%) và Florida (4%). Trong đó, các Quận tập trung dân cư cao bao gồm: Quận Cam, Quận Santa Clara, Quận Los Angeles (California) và Quận Harris (Texas). 31% tổng dân nhập cư Việt Nam tại Mỹ đều dồn về 4 Quận chủ chốt này.

Biểu đồ 2: Top những Bang có lượng người Việt cư trú cao nhất giai đoạn 2012 – 2016(2)

Trong khoảng từ 2012 – 2016, cư dân Việt tập trung nhiều nhất tại những thành phố là các khu đô thị lớn như Los Angeles (19%), San Jose (8%) và Houston (6%). Cụ thể, có khoảng 1/3 trên tổng số người nhập cư người Việt cư trú tại các khu đô thị này.

Biểu đồ 3: Các khu đô thị có nhiều người Việt sinh sống nhất tại Hoa Kỳ, giai đoạn 2012 – 2016(3)

Bảng 1: Dân số người nhập cư Việt Nam tập trung theo từng khu vực đô thị, giai đoạn 2012 – 2016(4)

 

  • Trình độ Anh ngữ:

Người nhập cư Việt thường có hạn chế về khả năng Anh ngữ(5) hơn so với mặt bằng chung người nước ngoài sinh sống tại Mỹ. Trong năm 2017, có khoảng 66% người Việt Nam từ 5 tuổi trở lên có trình độ tiếng Anh hạn chế so với 48% tổng dân số nhập cư, 8% người Việt Nam chỉ nói tiếng Anh tại nhà so với 16% tổng dân số người nước ngoài đang sinh sống nói chung.

 

  • Tuổi tác, Trình độ giáo dục và Việc làm:

Nhìn chung, người Việt Nam có tuổi thọ cao hơn so với dân cư bản địa và người nước ngoài sinh sống tại Mỹ. Tuổi trung niên của người Việt trong năm 2017 là 50 năm – lớn hơn nhiều so với tuổi thọ tổng số người nhập cư là 45 năm, và người bản địa là 36 năm. Họ có độ tuổi lao động tương đương với người nhập cư nước ngoài nói chung (18-64 tuổi, tham khảo Biểu đồ 4) nhưng lại cao hơn nhiều so với dân cư bản địa.

Biểu đồ 4: Phân bố tuổi thọ của dân số Hoa Kỳ theo Nguồn gốc, năm 2017(6)

Người nhập cư Việt Nam từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn thấp hơn so với người dân bản xứ và người nước ngoài sinh sống tại Mỹ. Năm 2017, chỉ 26% người nhập cư Việt có bằng cấp Cử nhân trở lên. Trong khi đó, có tới 32% người bản xứ và 31% tổng dân nhập cư đạt được trình độ này. Khoảng 30% người Việt Nam trưởng thành thiếu bằng tốt nghiệp Trung học Phổ thông, trong khi con số này của tổng dân số nhập cư trưởng thành chỉ khoảng 28%.

Tỷ lệ người Việt tham gia lực lượng lao động tương đương với người nhập cư Mỹ khác nói chung. Trong năm 2017, có khoảng 65% người Việt từ 16 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động dân sự. Tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ của tổng dân số nhập cư (66%) nhưng lại cao hơn người bản xứ (62%). Người Việt Nam cũng được tuyển làm việc trong các ngành dịch vụ hơn 2 nhóm cư dân còn lại (Tham khảo Biểu đồ 5).

Biểu đồ 5: Phân bố lực lượng lao động dân sự (từ 16 tuổi trở lên)

theo Nghề nghiệp và Nguồn gốc năm 2017(8)

 

  • Thu nhập và sự nghèo nàn:

Nhìn chung, người Việt Nam có thu nhập cao hơn so với tổng dân số bản địa và người nước ngoài tại Mỹ. Năm 2017, các hộ gia đình nhập cư Việt có thu nhập trung bình vào khoảng 63.200USD. Trong khi đó, hộ gia đình bản xứ và hộ gia đình nhập cư khác nói chung có thu nhập lần lượt là 60.800USD và 56.700USD.

Cũng vào năm 2017, có khoảng 11% gia đình Việt sống trong cảnh túng thiếu, tỷ lệ này thấp hơn so với con số 14% của các gia đình nhập cư nói chung.

 

  • Con đường nhập cư và nhập tịch:

Người Việt Nam có nhiều khả năng được nhập tịch Mỹ hơn so với người nhập cư nói chung. Trong năm 2017, có đến 77% người Việt Nam là công dân nhập tịch. Con số này với người nước ngoài tại Mỹ chỉ đạt 49%.

So với tất cả người nhập cư, hầu hết người Việt đều đến Mỹ từ trước năm 2000. Có khoảng 66% người Việt Nam nhập cư trước năm 2000, 18% nhập cư trong giai đoạn 2000 – 2009, 16% còn lại nhập cư từ năm 2010 về sau (Tham khảo Biểu đồ 6).

Biểu đồ 6: Lượng người Việt Nam và người nhập cư nói chung tại Mỹ

thể hiện theo Thời gian nhập cư, năm 2017(9)

Một lượng lớn người nhập cư Việt xuất thân từ dòng người tị nạn sau khi chiến tranh kết thúc. Những người di cư sớm nhất phần lớn là quân nhân và công chức (cùng gia đình họ) đã hợp tác với quân đội Hoa Kỳ hoặc làm việc cho Chính phủ miền Nam Việt Nam. Làn sóng người tị nạn tiếp theo, hay còn được gọi là nhóm “Thuyền nhân” (boat people), đến Mỹ vào cuối những năm 1970. Hầu hết những người này đến từ các vùng nông thôn với trình độ dân trí thấp. Rất nhiều người tị nạn Việt Nam đến Mỹ trong giai đoạn 1983 – 2004 đều được tái định cư tại các tiểu bang có lượng dân nhập cư lớn, bao gồm California, Texas và Washington.

Theo luật pháp Hoa Kỳ, người tị nạn phải nộp đơn xin trở thành “Thường trú nhân hợp pháp vĩnh viễn” (LPR) trong vòng một năm kể từ khi được nhập cư vào Mỹ, và 99% người nhập cư Việt Nam nhận Thẻ xanh vào năm 1982 đều là người tị nạn. Từ năm 1980, lượng người tị nạn Việt Nam nhập cư Mỹ có xu hướng giảm dần, lượng Thẻ xanh cấp cho người tị nạn Việt cũng theo đó ngày càng ít đi. Thay vào đó, Thẻ được cấp cho những người nhập cư đủ điều kiện trở thành LPR thông qua quan hệ gia đình (hoặc theo diện người thân trực hệ, hoặc theo diện được gia đình bảo trợ), được thể hiện trong Biểu đồ 7 dưới đây:

Biểu đồ 7: Người tị nạn Việt, người nhập cư Việt được cấp LPR với tư cách dân tị nạn,

người nhập cư Việt được cấp LPR thông qua quan hệ gia đình giai đoạn 1975 – 2016(10)

Hầu hết người Việt bây giờ nhận Thẻ xanh thông qua diện Đoàn tụ gia đình. Trong năm tài chính 2016, 97% trong số 41.450 người Việt trở thành thường trú nhân hợp pháp đã là người thân trực hệ của công dân Mỹ hoặc các thành viên khác trong gia đình – cao hơn rất nhiều so với con số 68% của tất cả các thường trú nhân hợp pháp mới (Tham khảo Biểu đồ 8).

Biểu đồ 8: Con đường nhập cư của người nhập cư Việt Nam

và tất cả người nhập cư khác tại Mỹ năm 2016(11)

Mặc dù hầu hết người nhập cư Việt tại Hoa Kỳ đều đang sinh sống hợp pháp, vẫn có khoảng 118.000 người Việt nhập cư trái phép trong giai đoạn 2010 – 2014. Theo ước tính của Viện Chính sách Di cư Hoa Kỳ, con số trên chiếm khoảng 1% trên tổng số 11 triệu người nhập cư trái phép tại Mỹ.

Viện Chính sách Di cư Hoa Kỳ (MPI) cũng ước tính rằng trong năm 2017, có khoảng 9.000 người Việt Nam nhập cư trái phép đủ điều kiện tham gia chương trình DACA 2012 (Chương trình bảo vệ các trẻ em nhập cư Mỹ thông qua các con đường Bất hợp pháp). Tuy nhiên, tính đến ngày 31/05/2018, chỉ có 60 người Việt Nam là những thành viên tích cực của chương trình, theo dữ liệu từ Sở Nhập tịch và Di trú Hoa Kỳ (USCIS). Nhìn chung, khoảng 702.250 thanh thiếu niên nhập cư Mỹ trái phép đang tham gia vào chương trình DACA.

 

  • Bảo hiểm y tế:

Người Việt Nam có nhiều cơ hội sở hữu Bảo hiểm y tế tư nhân và cộng đồng hơn người nước ngoài tại Mỹ nói chung. Năm 2017, chỉ có 8% người Việt là không có Bảo hiểm y tế, trong khi con số này ở tổng số dân nhập cư lại đến 20% (Tham khảo Biểu đồ 9).

Biểu đồ 9: Thực trạng sở hữu Bảo hiểm y tế của người Việt Nam,

tổng số dân nhập cư và người bản địa năm 2017(12)

 

  • Cộng đồng người Việt:

Theo dữ liệu từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2016, cộng đồng di dân người Việt tại Mỹ bao gồm khoảng 2,2 triệu người được sinh ra ở Việt Nam, thuộc dân tộc hoặc có tổ tiên là người Việt.

 

  • Kiều hối:

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, chỉ nội trong năm 2017, người nhập cư Việt tại nước ngoài đã gửi gần 14 tỷ USD tiền kiều hối đến Việt Nam thông qua các kênh chuyển tiền chính thống (Tham khảo Biểu đồ 10). Trong vòng 1 thập kỷ qua, số tiền kiều hối  của người Việt đã tăng gấp 3 lần, chiếm đến 6% tổng GDP Việt Nam trong năm 2016.

Biểu đồ 10: Dòng tiền kiều hối rót về Việt Nam hằng năm giai đoạn 2000 – 2017(13)

Để biết thêm các chương trình định cư Mỹ phù hợp với người Việt, vui lòng liên hệ US Direct IMM để được tư vấn MIỄN PHÍ.

 


(1) Nguồn: Dữ liệu thu thập từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (2010), Ban Khảo sát Cộng đồng Hoa Kỳ (2017) và luận văn “Thống kê lịch sử về dân số người nước ngoài sinh ra ở Hoa Kỳ: Giai đoạn 1850 – 2000” của Campbell J. Gibson và Kay Jung (2006)

(2), (3), (4) Nguồn: Bảng dữ liệu MPI từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (2012 – 2016). Trong đó, các quần thể có kích thước nhỏ như ở Alaska và Hawaii không được hiển thị.

(5) Trình độ Anh ngữ được xác định dựa trên câu trả lời Bảng khảo sát của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ. Theo đó, những người có câu trả lời cho rằng trình độ Anh ngữ bản thân dưới mức “very well” (khá tốt) được cho là có khả năng Anh ngữ hạn chế.

(6), (7), (8), (9) Nguồn: Bảng dữ liệu MPI từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (2017). Một vài số liệu cộng lại có thể không bằng 100 do được làm tròn đến số nguyên gần nhất.

(10) Nguồn: Bảng dữ liệu MPI từ Cục An ninh Nội địa Hoa Kỳ, “Niên giám thống kê Xuất nhập cảnh” (2002 và 2016), “Niên giám thống kê” (nhiều năm) và “Báo cáo thường niên” (nhiều năm) của Dịch vụ Nhập cư và Nhập tịch Hoa Kỳ, luận văn “Dân tị nạn Đông Nam Á đến Hoa Kỳ” của Linda W. Gordon (1987), luận văn “Di tích chiến tranh: Những người tị nạn Việt Nam, Lào, Campuchia” của Rubén G. Rumbaut (1996), luận văn “Chật vật trên đất Mỹ: Những người tị nạn Việt Nam, Lào, Campuchia giai đoạn 1970, 1980” của Gail P. Kelly (1996).

Đường màu tím đại diện cho người nhập cư Việt Nam được cấp LPR thông qua sự bảo trợ của gia đình, hoặc là người thân trực hệ của công dân Hoa Kỳ. Phần cắt khúc trên đường màu xanh (đường đại diện cho người tị nạn trước 1982) thể hiện rằng những con số này chỉ là tương đối ước chừng, lấy từ bảng dữ liệu 7.2 trong luận văn của Linda W. Gordon. Năm 1975, khoảng 125.000 người tị nạn Việt Nam đến Hoa Kỳ theo chương trình sơ tán do Hoa Kỳ tài trợ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Từ năm 1976 đến năm 1977, số lượng người tị nạn giảm mạnh, phần lớn do Hoa Kỳ từ chối cấp quyền nhập cảnh cho người di dân Việt Nam (ngoại trừ diện đoàn tụ gia đình). Nhưng sau đó, do xung đột chính trị và sắc tộc trong khu vực Đông Nam Á vẫn tiếp tục căng thẳng, số lượng dân tị nạn Việt Nam và các nước trong khu vực đột ngột tăng cao trở lại vào đầu năm 1978. Để đối phó với tình trạng khủng hoảng nhân quyền lúc bấy giờ, các nước phương Tây – bao gồm Mỹ – bắt đầu tiếp nhận lại lượng người tị nạn đến từ khu vực này – đặc biệt là những người sống trong các trại tị nạn.

(11) Nguồn: Bảng dữ liệu MPI từ Cục An ninh Nội địa Hoa Kỳ, “Niên giám thống kê Xuất nhập cảnh” (2016).

Nhập cư diện được gia đình bảo trợ (Family-Sponsored Preference) bao gồm cả con ruột tuổi trưởng thành và anh chị em ruột của công dân Hoa Kỳ, cũng như hôn phối và con cái của người được cấp Thẻ xanh. Nhập cư diện người thân trực hệ (Immediate Relatives of U.S. Citizens) bao gồm cả hôn phối, con ruột tuổi vị thành niên và cha mẹ ruột của công dân Hoa Kỳ. Nhập cư diện Đa dạng (Diversity): Đạo Luật Nhập Cư năm 1990 đã thành lập chương trình Visa Đa Dạng để cho phép người nhập cư từ các nước có tỷ lệ nhập cư thấp có thể nhập cảnh vào Hoa Kỳ, nhưng giới hạn tối đa 55.000 visa/mỗi năm tài chính. Các cá nhân sinh ra ở Việt Nam không đủ điều kiện để tham gia chương trình này.

(12) Nguồn:  Bảng dữ liệu MPI từ Cục điều tra dân số Hoa Kỳ (2016). Tổng số phần trăm theo từng loại bảo hiểm thường lớn hơn 100 vì mỗi người có thể sở hữu nhiều hơn 1 loại bảo hiểm.

(13) Nguồn: Bảng dữ liệu MPI từ Tổ chức Ngân hàng Thế giới triển vọng, “Dữ liệu kiều hối thường niên” (2018). Trong đó, số liệu năm 2017 chỉ mang tính tương đối.

Nguồn: MPI

 

 

Liên hệ Close
Đăng ký